TRUNG TÂM PHÂN TÍCHPHÂN TÍCH NGÀNH
Cập nhật Ngành CẢNG BIỂN – Thích nghi với thế giới thay đổi
Nội dung
Kỳ vọng Việt Nam sẽ duy trì lợi thế so với các đối thủ xuất khẩu lớn và ổn định trong phần còn lại của 2025 và 6T2026. Trong khi đó, môi trường thuế quan cao và triển vọng tăng trưởng kinh tế thấp sẽ gây áp lực lên nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu chính. Với các yếu tố vĩ mô tiêu cực và tích cực đan xen, quan điểm Trung tính với ngành Cảng biển Việt Nam.
BỐI CẢNH
- Hoạt động xuất nhập khẩu duy trì ổn định, sản xuất trong nước cải thiện trong T10/2025: Giá trị xuất nhập khẩu giữ vững tốc độ tăng trưởng lành mạnh trong 10T 2025, ở mức 762.4 tỷ USD (+17.3% CK; 10T 2024: +16.2% CK). Trong đó, giá trị nhập khẩu và xuất khẩu lần lượt đạt 371.4 tỷ USD (+18.6% CK) và 390.9 tỷ USD (+16.2% CK). Hầu hết các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều duy trì tăng trưởng vững chắc, bao gồm: Điện tử (+47.9% CK); Điện thoại (+4.7% CK); Máy móc (+12.2% CK); và Dệt may (+7.6% CK). Hầu hết các thị trường trọng điểm đều ghi nhận sự tăng trưởng về giá trị xuất khẩu, trong đó Mỹ (+27.7% CK; 10T 2024: +24.7% CK), Nhật Bản (+8.4% CK; 10T 2024: +5.7% CK), Hàn Quốc (+11.7% CK; 10T 2024: +8.7% CK) và Trung Quốc (+13.6% CK; 10T 2024: +0.8% CK) tăng trưởng nhanh.
- Hoạt động thông quan vẫn vững chắc, nhưng ghi nhận tốc độ tăng trưởng chậm lại, với sản lượng thông quan 5T ở mức 461 triệu tấn (+12.8% CK; 5T 2024: +38.9% CK). Trong đó, khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ước đạt lần lượt 89.5 triệu tấn (+0.1% CK) và 119 triệu tấn (+6.6% CK). Tương tự, khối lượng thông quan container cũng giữ được tăng trưởng, nhưng với tốc độ chậm hơn. Tổng khối lượng container ước tính đạt 13.2 triệu TEU (+9.3% CK; 5T 2024: +24.6% CK). Trong đó, khối lượng container xuất khẩu và nhập khẩu ước tính lần lượt đạt 4.2 triệu TEU (+11% CK; 5T 2024: +16.7% CK) và 4.2 triệu TEU (+11.9% CK; 5T 2024: +16.7% CK).
- Hoạt động sản xuất được cải thiện trong 10T 2025 và đặc biệt trong T10, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Việt Nam duy trì xu hướng tăng, đạt 10.8% CK trong T10, trong khi PMI đạt 54.5 điểm, mức cao nhất năm 2025. Trong khi đó, mặc dù vốn đăng ký FDI mới trong 10T 2025 vẫn ở mức cao nhưng có một số tín hiệu suy yếu về lượng vốn đăng ký mới và số lượng dự án mới.
- Hiệp định thương mại đối ứng Việt Nam – Hoa Kỳ: Cuối T10, Việt Nam và Hoa Kỳ đã đồng ý khuôn khổ cho một thỏa thuận về thương mại có đi có lại, công bằng và cân bằng. Các điểm chính bao gồm khả năng tiếp cận thị trường của Việt Nam đối với tất cả các mặt hàng xuất khẩu công nghiệp và nông nghiệp của Hoa Kỳ. Mức thuế đối ứng 20% đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam sẽ được duy trì trong khi Hoa Kỳ sẽ xác định các sản phẩm từ danh sách được nêu trong Phụ lục III của Sắc lệnh 14346 ngày 05/09/2025, điều chỉnh thuế quan tiềm năng cho các đối tác liên kết, để nhận được mức thuế đối ứng bằng 0%.
- Đối tác chiến lược toàn diện mới của Việt Nam: Trong năm 2025, Việt Nam đã tích cực ký kết năm hiệp định đối tác chiến lược toàn diện mới với New Zealand, Indonesia, Singapore, Thái Lan và Vương quốc Anh. Hiện nay, có mười bốn quốc gia có hiệp định đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam.
- Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung giảm leo thang: Mỹ và Trung Quốc đi đến một thỏa thuận thương mại và cả hai nước đều có hành động để giảm leo thang căng thẳng. Một trong những điểm chính là Mỹ sẽ giảm thuế đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc được áp dụng để kiềm chế dòng chảy fentanyl bằng cách loại bỏ 10 điểm phần trăm thuế tăng thêm, có hiệu lực từ ngày 10/11/2025 và sẽ duy trì việc hoãn thuế quan đối ứng tăng cường đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc cho đến ngày 10/11/2026. (Biểu thuế đối ứng 10% hiện tại sẽ vẫn có hiệu lực trong thời gian tạm ngừng này). Đổi lại, Trung Quốc sẽ đình chỉ việc thực hiện các biện pháp kiểm soát xuất khẩu mở rộng đối với đất hiếm và các biện pháp liên quan mà họ đã công bố vào ngày 9/10/2025.
TRIỂN VỌNG VÀ RỦI RO
- Đa dạng hóa chuỗi cung ứng chiếm ưu thế: Rủi ro thuế quan sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp dịch chuyển và đa dạng hóa chuỗi cung ứng để tránh phụ thuộc vào một hoặc hai quốc gia. Hơn nữa, là đối thủ lớn của Mỹ, Trung Quốc cuối cùng có thể mất vị trí “công xưởng thế giới” và việc di cư ra khỏi Trung Quốc sẽ tăng tốc. Các nước Đông Nam Á và Nam Á sẽ là những điểm đến tiềm năng cho sự chuyển dịch sản xuất, đặc biệt là đối với các ngành thâm dụng lao động. Sự tăng trưởng gần đây về giá trị xuất khẩu của các nước Đông Nam Á có thể là bằng chứng. Việt Nam, với sự ổn định chính trị, mạng lưới hợp tác quốc tế ngày càng phát triển và đầu tư cơ sở hạ tầng lớn, sẽ được hưởng lợi từ xu hướng này. Hơn nữa, nhiều địa điểm sản xuất hơn sẽ dẫn đến nhu cầu vận tải nhiều hơn, điều này sẽ hỗ trợ các công ty vận tải biển.
- Hiệu ứng tăng giá do thuế quan: Các chỉ số lạm phát gia tăng cho thấy thuế quan đối ứng đã bắt đầu được chuyển sang người tiêu dùng tại thị trường Mỹ. Giá cao hơn, cộng với niềm tin tiêu dùng thấp, sẽ ảnh hưởng đến tiêu dùng trong phần còn lại của năm 2025 và nửa đầu 2026. Một khi các mức thuế mới được áp dụng, các hiệu ứng chuyển qua thuế quan nói chung sẽ có tác động lớn hơn. Thêm nữa, các loại thuế riêng biệt theo ngành sẽ gia tăng tác động và làm giảm hơn nữa nhu cầu tại Mỹ.
- Tăng trưởng kinh tế toàn cầu và nhu cầu tại Mỹ chịu áp lực: Ngân hàng Thế giới cắt giảm dự báo tốc độ tăng trưởng GDP thực tế năm 2025 của các nền kinh tế chủ chốt: Mỹ (+1.4%; trước đó: +2.3%); EU (+0.7%; trước đây: +1%); và Nhật Bản (+0.7%; trước đây: +1.2%). Thuế quan đối ứng của Mỹ là lý do lớn nhất cho điều này. Tăng trưởng kinh tế thấp hơn sẽ kéo theo tăng trưởng thu nhập thấp hơn của người tiêu dùng ở các thị trường trọng điểm. Hơn nữa, các chỉ số niềm tin của người tiêu dùng phân hóa giữa các thị trường chính. Chỉ số Mỹ tiếp tục xu hướng giảm, đạt 53.6 trong T10 (giảm từ 61.7 trong T7), trong khi niềm tin tiêu dùng ở Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn ổn định. Do đó, tiêu dùng và nhu cầu tại thị trường Mỹ sẽ bị ảnh hưởng và gia tăng cạnh tranh gay gắt ở các thị trường trọng điểm khác. Nhu cầu tiêu dùng thấp hơn và cạnh tranh cao dẫn đến nhu cầu thông quan cảng và vận chuyển ở các nước xuất khẩu thấp hơn.












