Mô hình tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế

0
11

Mô hình tổng cầu và tổng cung hay còn gọi là mô hình AD – AS là mô hình dùng để giải thích hai biến số.

Biến số thứ nhất là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ được đo bằng GDP thực tế. Biến số thứ hai là mức giá được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI hay chỉ số điều chỉnh GDP.

1. Tổng cầu của nền kinh tế

Tổng cầu là lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trên lãnh thổ một nước (GDP) mà các tác nhân kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua tại mỗi mức giá.

Phương trình đường tổng cầu trong một nền kinh tế mở có dạng:

AD = C + I + G + NX

Trong đó:

  • C: Tiêu dùng của các hộ gia đình
  • I: Đầu tư của doanh nghiệp
  • G: Chi tiêu của chính phủ
  • NX: Xuất khẩu ròng

Độ dốc của đường

Đường tổng cầu dốc xuống. Được giải thích bởi ảnh hưởng của giá đối với tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu ròng:

  • Mức giá và tiêu dùng (Hiệu ứng Pigou): với mức giá thấp, lượng tiền mà các hộ gia đình nắm giữ có giá trị hơn, các hộ gia đình cảm thấy giàu có hơn nên họ chi tiêu nhiều hơn trước => tăng tiêu dùng.
  • Mức giá và đầu tư (hiệu ứng Keynes): Với mức giá thấp các hộ gia đình cần giữ ít tiền hơn để tiêu dùng. Nên họ cho vay số tiền thừa, làm lãi suất giảm => kích thích đầu tư.
  • Mức giá và xuất khẩu ròng (Hiệu ứng tỷ giá hối đoái): với mức giá thấp, làm cho hàng trong nước rẻ tương đối so với hàng ngoại. Điều này có tác dụng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu =>tăng xuất khẩu ròng.

Kết luận: Cả ba hiệu ứng này đã cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa giá và sản lượng hàng hóa. Hay đường tổng cầu dốc xuống.

Đường tổng cầu dịch chuyển

Đường tổng cầu sẽ dịch chuyển khi có sự thay đổi của các yếu tố cấu thành tổng cầu là C, I, G và NX.

 

2. Tổng cung của nền kinh tế

Tổng cung là mức sản lượng trong nước mà các doanh nghiệp sẵn sàng và có khả năng sản xuất, cung ứng tại một mức giá nhất định, các yếu tố khác không đổi. Nó thể hiện mối quan hệ giữa mức giá chung và khối lượng hàng hóa được cung ứng. Bởi vì ảnh hưởng của mức giá lên đường tổng cung xét trong ngắn hạn và dài hạn là rất khác nhau, nên chúng ta sẽ sử dụng 2 đường tổng cung: 

  • Tổng cung dài hạn – LRAS – Long Run Aggregate Supply
  • Tổng cung ngắn hạn – SRAS – Short Run Aggregate Supply

Tổng cung dài hạn – LRAS: là tập hợp tất cả những điểm biểu diễn tổng cung của nền kinh tế tại những mức giá nhất định trong dài hạn.

Đường tổng cung dài hạn lại thẳng đứng vì mức GDP tiềm năng là mức GDP đạt được khi nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng nhân công (full employment) – tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên, máy móc được sử dụng ở công suất trung bình. Trong dài hạn mức GDP tiềm năng chỉ phụ thuộc vào năng lực sản xuất của nền kinh tế, mà năng lực này lại không phụ thuộc vào P → LRAS thẳng đứng.

  • Đường tổng cung về hàng hóa, dịch vụ trong dài hạn (LRAS) thẳng đứng tại mức sản lượng tự nhiên.
  • Cung hàng hóa, dịch vụ trong dài hạn phụ thuộc vào công nghệ, khối lượng tư bản, lực lượng lao động sẵn có.
  • Cung hàng hóa, dịch vụ trong dài hạn không phụ thuộc vào mức giá trong nền kinh tế.

Sự dịch chuyển của đường tổng cung dài hạn: đường tổng cung dài hạn dịch chuyển khi có sự thay đổi của những yếu tố: Lao đông (L), Tư bản (K), Tài nguyên (R), Công nghệ (T).

Tổng cung ngắn hạn – SRAS: là tập hợp tất cả những điểm biểu diễn tổng cung của một nền kinh tế tại những mức giá nhất định trong ngắn hạn.

Đặc điểm của đường SRAS:

  • Thoải khi sản lượng thực tế thấp hơn mức Y*, lúc này nền kinh tế còn nhiều nguồn lực chưa sử dụng vì thế một sự thay đổi nhỏ của P có thể làm cho Y tăng nhiều.
  • Dốc khi sản lượng thực tế cao hơn mức Y*, lúc này nền kinh tế còn rất ít nguồn lực chưa sử dụng (giá cả đầu vào cao) nên một sự thay đổi lớn của P chỉ làm cho Y tăng ít.

Đường tổng cung ngắn hạn dốc lên do:

  • Mô hình tiền lương cứng nhắc: Tiền lương danh nghĩa thường cứng nhắc và chậm thay đổi hơn so với giá là do hợp đồng lao động, vì vậy khi giá sản phẩm tăng nhưng lương công nhân chưa tăng, doanh nghiệp được lợi nên sản xuất nhiều hơn. Kết luận: Giá tăng làm sản lượng tăng. Đường cung ngắn hạn dốc lên
  • Mô hình nhận thức sai lầm: Khi mức giá chung tăng doanh nghiệp dễ tưởng rằng hàng hoá, dịch vụ của mình cũng tăng nên cung ứng nhiều hơn. Kết luận: Giá tăng thì sản lượng tăng. Đường cung ngắn hạn dốc lên.
  • Mô hình giá cả cứng nhắc: Khi mức giá chung tăng nhưng Chi phí thực đơn quá lớn nên doanh nghiệp trì hoãn tăng giá, giá bán của doanh nghiệp thấp hơn nên bán được nhiều hơn. Kết luận: Giá bán tăng, cung ứng tăng. Đường cung ngắn hạn dốc lên.
3. Cân bằng vĩ mô trong ngắn và dài hạn

Cân bằng trong ngắn hạn:

  • Trong ngắn hạn, nền kinh tế cân bằng tại giao điểm của AD với đường SRAS
  • Tại mức giá P1 <P0 thì tổng cầu vượt quá tổng cung, P tăng đến mức PO
  • Tại mức giá P2 > P0 thì tổng cung vượt quá tổng cầu, P giảm đến mức PO

Cân bằng trong dài hạn: Trong dài hạn, nền kinh tế cân bằng tại giao điểm của đường AD với đường SRAS nằm trên đường LRAS

Cách xác định sản lượng và mức giá cân bằng: Thực tế trong ngắn hạn không phải lúc nào giao điểm của đường AD với đường SRAS cũng nằm trên đường LRAS. Khi điều này xảy ra người ta gọi đó là những biến động trong ngắn hạn của nền kinh tế (short run economic fluctuation). Có thể xảy ra các trường hợp sau đây:

4. Các cú sốc và giải pháp của chính phủ

Cú sốc cầu

  • Cú sốc cầu tiêu cực trong ngắn hạn khi giá P giảm, sản lượng Y giảm (gọi là suy thoái kinh tế). Do đó đường tổng cầu AD dịch trái. Chính phủ sẽ tăng chi tiêu G hoặc giảm thuế T để khắc phục tình trạng. Tăng chi tiêu chính phủ G có hiệu quả nhanh hơn giảm thuế T.
  • Cú sốc cầu tiêu cực trong dài hạn sau khi suy thoái kinh tế dẫn đến thất nghiệp tăng, doanh nghiệp giảm lương công nhân do lao động cần việc tăng nên chi phí sản xuất giảm, doanh nghiệp tăng sản lượng làm tổng cung tăng. Do đó đường tổng cung dịch phải về với mức sản lượng tự nhiên. Kết luận: Giá P giảm, sản lượng Y không đổi trong điều kiện chính phủ không can thiệp.

 

Cú sốc cung

  • Cú sốc cung khi đường cung dịch trái làm giá tăng đồng thời sản lượng giảm (tức là vừa lạm phát vừa suy thoái kinh tế), lúc này chính phủ đối mặt với hai lựa chọn không mong muốn: Tăng chi tiêu G để dịch chuyển đường AD sang phải, duy trì tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, chấp nhận tỷ lệ lạm phát cao. Hoặc giảm chi tiêu G để dịch chuyển đường AD sang trái, duy trì mức giá cả như cũ, chấp nhận tỷ lệ thất nghiệp cao. Các chính phủ thường quyết định tăng G để duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên, chấp nhận lạm phát.

 

Xem thêm:

Bình luận

Please enter your comment!
Please enter your name here